Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
BÀI 1: LỊCH SỬ VỀ TÂM LÝ HỌC - Coggle Diagram
BÀI 1: LỊCH SỬ VỀ TÂM LÝ HỌC
Thần thoại
Venus
Khoảng thế kỷ III TCN (sau khi tiếp thu thần thoại Hi Lạp) đến thế kỷ IV
La Mã
Đồng nhất hóa hoàn toàn với Aphrodite của Hi Lạp nhưng mang thêm trọng trách chính trị. Người La Mã coi Venus là tổ mẫu của dân tộc mình vì con trai nàng (Aeneas) là tổ tiên của những người sáng lập La Mã.
Kama (Kamadeva)
Xuất hiện từ thời kỳ Vệ-đà (khoảng 1500 TCN)
Tay cầm cung làm bằng mía, dây cung bằng đàn ong và bắn các mũi tên bằng hoa. Thần bị Shiva thiêu thành tro bằng con mắt thứ ba khi cố tình bắn tên tình yêu để Shiva chú ý đến Parvati. Sau đó, Kama được tái sinh thành Pradyumna (con trai của Krishna) và tiếp tục cai quản tình yêu thế gian dưới dạng không có thân xác (Ananga).
Ấn Độ
Aphrodite
Hi Lạp
Khoảng thế kỷ VIII TCN (thời Homer/Hesiod) đến khi Công giáo phát triển
Sinh ra từ bọt biển sau khi Kronos cắt bộ phận sinh dục của Uranus ném xuống biển. Nàng kết hôn với thần thợ rèn thô kệch Hephaestus nhưng nổi tiếng với nhiều cuộc tình lãng mạn (đặc biệt với Ares và Adonis). Sự đố đố kỵ về sắc đẹp của nàng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến Chiến tranh Thành Troy.
Ý niệm thần thoại không được bàn luận hay kiểm chứng về tính hợp lý
Lịch sử tâm lý học
Empedocles (495 – 435 TCN)
Mọi thứ đều là sự kết hợp của bốn nguyên tố: đất, nước, khí, lửa
Hippocrate (460 – 370 TCN)
Bốn nguyên tố tương ứng với 4 loại dịch trong cơ thể: máu (nóng + ướt = khí), niêm dịch (lạnh + ướt = nước), mật vàng (nóng + khô = lữa) và mật đen (lạnh + khô = đất)
Galen (201 – 129 TCN)
Bốn loại dịch trong cơ thể tương ứng với 4 tính cách: lạc quan (máu), bình thản (niêm dịch), nóng nảy (mật vàng) và sầu muộn (mật đen).
Tính cách chính là cấu trúc vật chất của cơ thể
Platon (427 – 347 TCN)
Ý niệm tồn tại bất biến và vĩnh hằng, linh hồn thuộc thế giới ý niệm nên linh hồn bất tử
Nhận thức con người là sự hồi tưởng lại những gì mà linh hồn đã lãng quên
Linh hồn tồn tại độc lập với thể xác và làm cho thể xác hoạt động, điều khiển thể xác
Linh hồn khi nhập vào thể xác biến thành tính cách (nhận thức) tùy theo cấu trúc vật chất của mỗi cơ thể
Pythagoras (570 – 495 TCN)
“Con số là thước đo của hình thức và tư tưởng”
Socrates (469 – 399 TCN)
“Tôi chỉ biết một điều rằng tôi không biết gì cả”
René Descartes (1595-1650)
“Tôi tư duy nên tôi tồn tại”
Flourens (1794 – 1867)
Nhận ra khi bồ câu bị cắt bỏ bán cầu đại não sẽ mất tất cả các hoạt động bình thường
Fritch & Hitzig
Năm 1870 đã dùng dòng điện kích thích vỏ não của chó và quan
sát được sự vận động của các cơ đối bên, tìm ra vùng vỏ não vận động
Sechenov (1829 – 1905)
Tìm ra ức chế phản xạ ở thần kinh trung ương
Wilhelm Wundt (1832 - 1920)
“Mô tả chính xác về ý thức là mục tiêu duy nhất của tâm lý học thực nghiệm”
1879 ông thiết lập phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên ở Leipzig, Đức, đánh dấu sự thừa nhận tâm lý học như một ngành khoa học độc lập
Ivan Petrovich Pavlov (1849 – 1936)
Phát hiện ra quá trình học hỏi thông qua phản xạ có điều kiện, tạo ra khái niệm quan trọng trong nghiên cứu tâm lý hành vi