Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
Các giai đoạn phát triển của giáo dục học phổ thông - Coggle Diagram
Các giai đoạn phát triển của giáo dục học phổ thông
Giai đoạn từ thế kỷ XVII đến nay
Từ thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX
Bối cảnh
Sau Cách mạng tư sản Pháp 1789 đến giữa thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã xác lập trên phạm vi toàn thế giới
Tư tưởng dân chủ, bình đẳng lan rộng.
Đặc trưng
Xuất hiện các lý luận sư phạm mới dựa trên thực nghiệm.
Giáo dục được thể chế hóa và coi là quyền lợi chính đáng của người lao động.
Tư tưởng chủ đạo
Mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện con người.
Đưa lao động sản xuất vào giáo dục nhà trường.
Đại diện
I. Pestalozzi (1746–1827).
F. Froebel (1782–1852).
I. Herbart (1746–1841).
A. Disterveg (1790–1866).
Thế kỷ XVII
Bối cảnh
Xã hội phong kiến châu Âu khủng hoảng, chủ nghĩa tư bản đang hình thành.
Khoa học tự nhiên phát triển mạnh (Cách mạng khoa học lần thứ nhất)
Đặc trưng
Giáo dục học bước đầu hình thành như một khoa học độc lập.
Xuất hiện hệ thống lớp – bài thay cho dạy học cá nhân.
Đặt nền móng cho nền giáo dục dân chủ, hướng đến mọi đối tượng.
Tư tưởng chủ đạo
Giáo dục phải dân chủ, phù hợp quy luật tự nhiên, gắn với đời sống.
Đề cao tính trực quan, hệ thống, vừa sức, phát triển toàn diện học sinh.
Đại diện
J.A. Cômenxki - Ông tổ nền sư phạm thời cận đại
Từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Bối cảnh
Cách mạng công nghiệp, xã hội công nghiệp – cạnh tranh gay gắt.
Hai cuộc Chiến tranh thế giới.
Tác động của tâm lý học, Xô-viết, chủ nghĩa nhân văn.
Đặc trưng
Hình thành các trường phái giáo dục mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp – xã hội:
Chú trọng vai trò kinh nghiệm và phát triển trí tuệ.
Đối tượng
A. Makarenko (1888–1939) – giáo dục tập thể.
John Dewey (1859–1952) – giáo dục thực dụng.
L.S. Vưgôtxki (1896–1934) – “vùng phát triển gần nhất”.
Tư tưởng chủ đạo
Giáo dục không chỉ chuẩn bị cho cuộc sống mà chính là cuộc sống.
Dạy học đi trước, đón đầu sự phát triển trí tuệ (Vưgôtxki).
Giáo dục tập thể và cải tạo nhân cách, giáo dục học sinh cá biệt (Makarenko).
Cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI
Đặc trưng
Học tập suốt đời, gắn kết với thực tiễn, đa ngành – liên ngành.
Giáo dục hướng tới phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất và giáo dục suốt đời
Bối cảnh
Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.
Cách mạng khoa học – công nghệ 4.0, bùng nổ thông tin.
Nhu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Tư tưởng chủ đạo
Tại Việt Nam: Tư tưởng chủ đạo là chuyển đổi nền giáo dục từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực". Kết hợp dạy chữ, dạy người, định hướng nghề nghiệp.
Nghị quyết 29/NQ-TW
Nghị quyết 88/2014/QH13
Chương trình giáo dục phổ thông 2018
4 trụ cột UNESCO: Học để biết – Học để làm – Học để tự khẳng định – Học để chung sống.
Đại diện
Jacques Delors (1925–2020) – người đề xuất 4 trụ cột UNESCO
Phạm Minh Hạc (1934–2023) – giáo dục gắn với phát triển con người toàn diện
Phạm Minh Hạc (1934–2023) – giáo dục gắn với phát triển con người toàn diện
Giai đoạn Công xã nguyên thủy.
Đặc trưng giáo dục:
Gắn liền với trình độ sản xuất thấp kém
Hoạt động giáo dục chưa tách biệt thành một lĩnh vực riêng, mà đan xen trong lao động và sinh hoạt hằng ngày.
truyền thụ kinh nghiệm sống từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
Giáo dục mang tính tự phát, giản đơn, trực tiếp và thực hành nhiều hơn lý thuyết.
Tư tưởng chủ đạo.
Giáo dục gắn với lao động và thực tiễn
Giáo dục đạo đức – lối sống
Tính cộng đồng cao
Hình thức truyền miệng
Bối cảnh lịch sử:
là giai đoạn đầu tiên và dài nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.
kéo dài từ khi con người xuất hiện cho đến khi xuất hiện chế độ tư hữu và nhà nước.
Đại diện tiêu biểu.
Tác phẩm văn học dân gian của các dân tộc
Các hình thức nghi lễ – phong tục trong cộng đồng cũng đóng vai trò giáo dục
Giai đoạn xã hội phong kiến
Đại diện tiêu biểu của từng giai đoạn
Ở châu Á, đặc biệt là Trung Hoa, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Khổng Tử (551 - 479 TCN): Sáng lập Nho giáo, chủ trương giáo dục phổ biến cho mọi người, nhấn mạnh vai trò giáo dục trong hình thành nhân cách và đạo lý làm người.
Ở phương Tây: giáo dục chủ yếu gắn với giáo hội Thiên chúa giáo và mô hình giáo dục kinh viện.
Đặc trưng giáo dục
Mang tính kinh viện
Phương pháp giáo dục giáo điều, chủ yếu dựa trên sự học thuộc máy móc.
Chịu ảnh hưởng sâu rộng của tôn giáo
Mang tính bất bình đẳng
Các phương pháp trừng phạt thể xác học sinh được sử dụng rộng rãi được coi là phương pháp giáo dục hiệu quả để ngăn chặn tội lỗi của con người.
Ở Châu Âu tồn tại 3 hệ thống giáo dục:
Hệ thống giáo dục của nhà thờ dành cho con em tầng lớp quý tộc.
Hệ thống giáo dục hiệp sĩ đào tạo nên những chiến binh phục vụ cho các cuộc chiến tranh giữa các lãnh chúa.
Hệ thống giáo dục nghề cho con em của các thị dân tự do và thợ thủ công.
Ở Châu Á (bao gồm Việt Nam): Giáo dục chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo.
Tư tưởng chủ đạo
Giáo dục nhằm duy trì trật tự xã hội phong kiến, phục vụ cho giai cấp thống trị.
Ở Châu Á, trong đó có Việt Nam giáo dục chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo do Khổng Tử sáng lập nên.
Tôn giáo là ý thức hệ chi phối toàn xã hội.
Giáo dục có ý nghĩa phổ biến, hình thành nhân cách đầy đủ ba mặt: nhân, trí, dũng.
Về đối tượng giáo dục: “Hữu giáo vô loại” (mọi người đều có thể được học)
Về mục đích giáo dục: đào tạo nên con người, đó là những người nhân nghĩa, trung chính, hiểu được cái đạo của 6 người quân tử.
Về phương pháp giáo dục: những nguyên tắc sau:
Phương pháp thân giáo; phù hợp với đối tượng; thực hành, vận dụng; luyện tập, ôn tập; phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập; Sự thống nhất giữa học và suy nghĩ.
Giai đoạn chiếm hữu nô lệ
Đặc trưng giáo dục
Sự xuất hiện nhà nước -nhà trường được lập ra để phục vụ nhu cầu học tập của con cái chủ nô.
Giáo dục chủ yếu dành cho giai cấp thống trị, không phải toàn dân.
Sự phân hóa rõ rệt trong hệ thống giáo dục Athens và Sparte:
Tư tưởng chủ đạo
Giáo dục gắn với mục tiêu chính trị – xã hội của từng nhà nước
Quan niệm "một trí tuệ lành mạnh trong một cơ thể tráng kiện"
Đề cao giáo dục đạo đức, ý thức công dân, lòng trung thành với nhà nước.
Giáo dục bắt đầu có hệ thống, có chương trình và phân kỳ.
Bối cảnh lịch sử.
Bối cảnh lịch sử là xã hội chiếm hữu nô lệ (khoảng thế kỷ IV – III TCN), gắn với sự ra đời của nhà nước, chữ viết, nhà trường và nghề giáo viên.
Đại diện tiêu biểu
Marcus Fabius Quintilian (La Mã): Người đầu tiên nêu yêu cầu đối với nghề giáo viên, coi trọng giáo dục nhân văn trong sự phát triển của trẻ
Aristotle (Hy Lạp):
Đưa ra tư tưởng giáo dục toàn dân, toàn diện, phù hợp với mô hình chính quyền.
Đặc biệt nhấn mạnh giáo dục đạo đức và vai trò của giáo dục trong việc duy trì sự bền vững của chế độ.
Người đầu tiên phân kỳ các giai đoạn giáo dục học sinh.
Giai đoạn thời kì phục hưng (Từ thế kỉ XIV - thế kỉ XIV)
Tư tưởng chủ đạo
Đặt con người làm trung tâm của giáo dục, thay vì thần quyền.
Nhấn mạnh tự do sáng tạo, phát triển cá nhân toàn diện.
Đại diện tiêu biểu của từng giai đoạn
Víttorinô da Feltre (Ý): xây dựng mô hình trường học kết hợp giáo dục thể chất và trí tuệ.
Erasmus (Hà Lan): nhà nhân văn chủ nghĩa, phê phán giáo điều và thúc đẩy cải cách giáo dục.
Rabelais, Montaigne, Thomas More: các nhà tư tưởng và giáo dục tiêu biểu, đề cao lý trí và nhân văn.
Đặc trưng giáo dục
Về trí dục: Học sinh phải học cả tiếng Latin và Hy Lạp để nghiên cứu những tài liệu văn nghệ của thời cổ đại. Coi trọng khoa học tự nhiên.
Phải tôn trọng trẻ em, chú ý phát triển tư duy của trẻ, chống áp đặt, nhồi nhét, chống phương pháp giáo dục kinh viện, kìm hãm sự sáng tạo của con người.
Đòi hỏi trẻ em phải được phát triển cả về thể chất và tinh thần.
Phản đối chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa giáo điều, phản đối chế độ trừng phạt trẻ em bằng roi vọt.
Giải phóng con người ra khỏi ảnh hưởng của thần học và tôn giáo.