Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á (ASEAN) -…
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á (ASEAN)
1.Quá trình hình thành và mục đích thành lập của ASEAN
A.Quá trình hình thành
Sau khi giành độc lập, các quốc gia Đông Nam Á từng bước xây dựng và phát triển kinh tế, đưa tới nhu cầu hợp tác khu vực.
Điều này cũng được thúc đẩy bởi sự phát triển của xu thế khu vực hóa trên thế giới xuất hiện từ những năm 50, 60 của thế kỉ XX.
Muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài, đồng thời thúc đẩy hợp tác và tương trợ lẫn nhau, từ những năm 60 của thế kỉ XX, một số tổ chức khu vực đã ra đời ở Đông Nam Á.
Năm 1961: Ma-lai-xi-a, Thái Lan và Phi-lip-pin thỏa thuận thành lập Hiệp hội Đông Nam Á (ASA).
Năm 1963: Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a thỏa thuận thành lập tổ chức MAPHILINDO.
Năm 1966: Ngoại trưởng Thái Lan gửi ngoại trưởng các nước Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
Ngày 8/8/1967 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) gồm 5 nước: Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philíppin và Thái Lan.
B.Mục đích thành lập của ASEAN
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông hợp tác và hướng tới một Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.
Thúc đẩy hòa bình, ổn định khu vực thông qua tôn trọng công lí và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước thành viên, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc.
Thúc đẩy hợp tác, tích cực giúp đỡ lẫn nhau về kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, kĩ thuật, hành chính.
2.Hành trình phát triển của ASEAN
A.Từ ASEAN 5 (1967) đến ASEAN 10 (1999)
Trong giai đoạn 1967-1999, ASEAN đã phát triển từ ASEAN 5 lên ASEAN 10. Việc các nước trong khu vực trở thành viên ASEAN đánh dấu bước phát triển trong liên kết khu vực ở Đông Nam Á.
Năm 1967: ASEAN được thành lập (5 nước thành viên).
Năm 1984: Bru-nây gia nhập ASEAN (thành viên thứ 6).
Năm 1995: Việt Nam gia nhập ASEAN (thành viên thứ 7).
Năm 1997: Lào và Mi-an-ma gia nhập ASEAN (thành viên thứ 8, 9).
Năm 1999: Cam-pu-chia gia nhập ASEAN (thành viên thứ 10).
B.Các giai đoạn phát triển chính của ASEAN
1967 - 1976
Thành lập và bước đầu phát triển về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động.
Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN là cơ chế hoạch định chính sách cao nhất.
Năm 1971, ASEAN ra tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do và trung lập.
Năm 1976, Hiệp ước Ba-li được kí kết là sự kiện đánh dấu bước ngoặt của ASEAN, thể hiện cam kết cao nhất của các nước thành viên nhằm xây dựng hòa bình, hữu nghị, hợp tác trong khu vực.
1976 - 1999
Thiết lập quan hệ chính trị ổn định trong khu vực, mở rộng thành viên và từng bước nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.
ASEAN phát triển số lượng thành viên từ 5 lên 10 nước.
ASEAN cũng tham gia giải quyết nhiều vấn đề chính trị, an ninh lớn trong khu vực như vấn đề Cam-pu-chia.
Từ sau Hiệp ước Ba-li (1976), Hội nghị Thượng đỉnh là cơ chế hoạch định chính sách cao nhất, Ban thư kí ASEAN được thành lập, có trụ sở tại Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a).
1999 - 2015
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, tăng cường hợp tác nội khối và hợp tác quốc tế, từng bước chuẩn bị cho sự ra đời của Cộng đồng ASEAN.
Năm 2007, Hiến chương ASEAN được thông qua.
2015 – nay
Cộng đồng ASEAN được xây dựng và phát triển với ba trụ cột chính là Cộng đồng Chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa - xã hội.
ASEAN tăng cường hợp tác và kết nối khu vực, đồng thời không ngừng nâng cao vị thế trong khu vực và trên thế giới.