Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - Coggle Diagram
QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1991)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991
Ý chính cuộc họp
Thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam khẳng định: (1) Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; (3)
Đảng đưa ra khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh: tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta
Ý Nghĩa
Đại hội VII là mốc son chói lọi, khẳng định một nấc thang quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ đây trở đi, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được đẩy mạnh cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Đại hội lần thứ XII của Đảng (năm 2016)
Ý nghĩa
Cuộc vận động học tập: Nhằm nâng cao nhận thức, tư tưởng, đạo đức cách mạng và lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nâng cao đạo đức cách mạng: Củng cố đạo đức cách mạng, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động.
Ý Chính của cuộc họp
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh: Xác định việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Bài học hàng đầu là phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhận thức đúng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
Diễn ra tháng 4/2006, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế.
Đại hội II của Đảng (2-1951)
Tổng quan
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng trong quá trình cách mạng Việt Nam, với nhiều quyết định và cột mốc quan trọng. Dưới đây là những thông tin và cột mốc chính về Đại hội II của Đảng
Hoàn cảnh lịch sử
Đại hội II được tổ chức trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đang diễn ra ác liệt. Tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến đổi lớn. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đang phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng toàn cầu.
Những quyết định quan trọng
Thông qua Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng
Những văn kiện này đã định hướng rõ ràng mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, nhấn mạnh nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc
Phê phán đường lối của các nhóm cơ hội hữu khuynh, tả khuynh trong Đảng
Đổi tên Đảng
Một quyết định quan trọng tại Đại hội là đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam, nhằm phù hợp hơn với tình hình thực tế và nhiệm vụ mới của cách mạng
Bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết.
Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
Đề ra các nhiệm vụ và chiến lược cụ thể
Nhiệm vụ kháng chiến: Đại hội xác định nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng và toàn dân là đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc.
Nhiệm vụ kiến quốc: Sau khi kháng chiến thành công, Đảng sẽ tập trung vào xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, với các biện pháp kinh tế và văn hóa cụ thể.
Tăng cường công tác xây dựng Đảng: Đại hội nhấn mạnh việc củng cố tổ chức Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Tầm quan trọng của Đại hội
Đại hội II là một mốc son quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ về tổ chức và tư tưởng, xác định rõ ràng hơn con đường cách mạng Việt Nam.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và các nhiệm vụ xây dựng đất nước sau này.
Ý nghĩa
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã để lại nhiều bài học quý báu và các kinh nghiệm quan trọng, giúp Đảng lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tiếp tục dẫn dắt nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại hội IV của Đảng (12-1976)
Giới thiệu chung
Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức từ ngày 12 đến 19 tháng 12 năm 1976 tại Hà Nội. Đây là Đại hội đầu tiên của Đảng sau khi đất nước thống nhất, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Ý nghía
Đại hội IV là minh chứng cho sự đoàn kết, sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Đại hội IV là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, tự do.
Đại hội IV là cơ sở để Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc xây dựng đất nước, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Nội dung
Xây dựng và phát triển đất nước thống nhất: Đại hội xác định mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc: Đại hội nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết của toàn dân, sự hợp tác quốc tế trong công cuộc xây dựng đất nước.
Xây dựng nền kinh tế quốc dân: Đại hội đưa ra những định hướng phát triển kinh tế, tập trung vào việc khôi phục sản xuất, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
Xây dựng văn hóa, xã hội mới: Đại hội đề ra mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật phát triển.
Công tác cán bộ: Đại hội xác định nhiệm vụ bồi dưỡng, đào tạo, bố trí cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Kết quả đạt được
Đại hội IV đã thông qua Hiến pháp năm 1976, xác định nền tảng pháp lý cho đất nước thống nhất.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV, với Lê Duẩn làm Tổng Bí thư.
Đại hội đã đưa ra những định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới, tạo động lực cho công cuộc xây dựng đất nước sau thống nhất.
Đại hội lần thứ IX (4-2001)
Ý Chính của cuộc họp
Cương lĩnh xây dựng đất nước
: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bổ sung và phát triển, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về cách mạng Việt Nam.
Vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh
: Tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ý nghĩa
Khẳng định toàn diện
: Đại hội IX khẳng định rõ ràng và có hệ thống những vấn đề cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Định hướng nghiên cứu và học tập:
Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo di sản Hồ Chí Minh, nhằm nâng cao nhận thức và tư tưởng cách mạng, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 4/2001, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI.
Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006)
Đại hội lần thứ X của Đảng diễn ra tháng 4/2006 với chủ đề "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển"
Ý chính của cuộc họp
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng: Đặc biệt quan tâm đến việc chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu, xác định là một nhiệm vụ trọng tâm trước mắt và lâu dài của Đảng1.
Phát triển bền vững: Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển1.
Huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực: Để thực hiện mục tiêu và mô hình xã hội chủ nghĩa gồm 8 đặc trưng, Đại hội X đã tổng kết trên cơ sở Cương lĩnh của Đảng năm 199123.
Ý Nghĩa
Tạo đà cho sự phát triển của Đảng và đất nước:
Cuộc họp đã định hướng chiến lược và chính sách phát triển, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững của Đảng và đất nước.
Củng cố đoàn kết nội bộ:
Đại hội là dịp để Đảng viên gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, củng cố đoàn kết và tạo sự đồng lòng trong việc thực hiện nhiệm vụ của Đảng.