Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông (Thế Kỉ XV) - Coggle Diagram
Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông
(Thế Kỉ XV)
BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Năm 1460, vua Lê Thánh Tông lên ngôi
Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước
đã từng bước ổn định.
Bộ máy hành chính nhà nước
bắt đầu bộc lộ
một số hạn chế.
Ở trung ương,
sự tập trung quyền lực chủ yếu
Quan đại thần
Những võ quan
Công thần
Sau khi vua Lê Thái Tổ qua đời, tình trạng quan lại lộng quyền, tham nhũng,… ngày càng phổ biến đã ảnh hưởng đến tính tập quyền của Nhà nước.
Ở địa phương
đất nước rộng lớn được chia thành
5 đạo
Đông
Tây
Nam
Bắc
Hải Tây
Quyền lực của những người đứng đầu mỗi đạo rất lớn, là mầm mống của xu hướng phân tán quyền lực.
NỘI DUNG CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH
Ở trung ương
Xóa bỏ hầu hết
các chức quan đại thần có quyền lực lớn.
Chỉ
giữ lại một số ít
quan đại thần để cùng vua bàn bạc công việc khi cần thiết.
Vua nắm
mọi quyền hành
và
trực tiếp chỉ đạo
các cơ quan chuyên môn.
Hoàn thiện cơ cấu, chức năng của
lục Bộ (sáu bộ)
đồng thời, đặt ra
lục Tự (sáu tự)
để giúp việc cho
lục Bộ, lục Khoa (sáu khoa)
để theo dõi, giám sát hoạt động của lục Bộ.
Ở địa phương
Năm 1466, vua xóa bỏ
5 đạo
, chia đất nước thành
12 đạo thừa tuyên
và
phủ Trung Đô (Thăng Long)
Năm 1469,
đổi tên
một số đạo thừa tuyên
Quốc Oai
thành
Sơn Tây
Bắc Giang
thành
Kinh Bắc
Nam Sách
thành
Hải Dương
Thiên Trường
thành
Sơn Nam
Năm 1471, đặt thêm đạo thừa tuyên
thứ 13 là Quảng Nam.
Đứng đầu đạo thừa tuyên là Đô ty, Thừa ty, Hiến ty có quyền ngang nhau. Dưới đạo thừa tuyên là phủ, huyện, châu, xã.
Bộ máy quan lại
Quan lại trong bộ máy nhà nước được tuyển chủ yếu thông qua thi cử.
Nhà nước chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại có năng lực và phẩm chất tốt.
Trong thời kì trị vì, nhiều khoa thi được tổ chức, chọn nhiều người tài. Vua đặt ra lệ định kì kiểm tra năng lực quan lại, ai làm tốt thì thăng chức, ai phạm lỗi thì bị phạt.
Pháp luật
Vua chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật để quản lí nhà nước.
Năm 1483, Nhà nước ban hành bộ
Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức)
gồm 722 điều
Điều luật bảo vệ phụ nữ
Bảo vệ người già, người tàn tật, trẻ em
Bảo vệ sản xuất nông nghiệp,...
Quân đội và quốc phong
Năm 1466, vua tiến hành cải tổ hệ thống quân đội.
Quân đội được chia làm 2 loại
Quân thường trực bảo vệ kinh thành
(Cấm binh hay thân binh)
Quân các đạo
(Ngoại binh)
Mỗi đạo chia làm
5 phủ
do đô đốc phủ đứng đầu; mỗi phủ gồm
6 vệ
; mỗi vệ có
5 hoặc 6 sở
.
Chú trọng đến rèn luyện quân đội như
Duyệt binh sĩ hằng năm
Cứ 3 năm tổ chức
Kì thi khảo võ nghệ
của quân sĩ và định lệ thưởng phạt,...
Kinh tế
Vua ban hành các
chính sách phát triển
kinh tế
Chế độ lộc điền
Chế độ quân điền
Chế độ lộc điền
: chế độ ban cấp ruộng đất làm bổng lộc cho quý tộc, quan lại cao cấp từ tứ phẩm trở lên.
Chế độ quân điền
: hế độ chia ruộng đất thành các phần bằng nhau, ban cấp lần lượt cho quan lại từ tam phẩm trở xuống đến tất cả các tầng lớp nhân dân.
Văn hóa, giáo dục
Coi trọng biên soạn quốc sử,
"Xem sử như tấm gương"
để coi mà biết đúng sai.
Việc sử dụng lễ, nhạc, quy chế thi cử,... cũng được
luật hóa nghiêm túc.
Đặc biệt
chú trọng giáo dục và khoa cử
để đào tạo, tuyển dụng nhân tài cho đất nước.
Cho xây dựng lại Văn Miếu, mở rộng nhà Thái Học và lập trường học ở nhiều địa phương.
Cho dựng bia đá ở Văn Miếu để
tôn vinh những người đỗ đại khoa.
Nhà nước đã tổ chức được
12 khoa thi Hội
, lấy đỗ hơn
500 tiến sĩ
.
Kết quả và ý nghĩa
Kết quả
Làm cho bộ máy nhà nước trở nên quy củ, chặt chẽ, tập trung cao độ, đề cao quyền hành toàn diện của hoàng đế.
Các chức danh được quy định rõ ràng, hệ thống giám sát được tăng cường, hạn chế sự tập trung quyền lực dẫn đến chuyên quyền và nguy cơ cát cứ.
Các chính sách kinh tế đã góp phần khẳng định quyền sở hữu tối cao của Nhà nước tạo nền tảng cho kinh tế nông nghiệp phát triển.
Chính sách giáo dục, khoa cử đã đào tạo được hệ thống quan lại trí thức có tài, đủ năng lực quản lí đất nước.
Ý nghĩa
Làm chuyển biến toàn bộ các hoạt động của quốc gia, tạo cơ sở cho Vương triều Lê sơ phát triển vững mạnh, đất nước hưng thịnh.