Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
Chương 13.3: Tiết kiệm và đầu tư - Mô hình, Ngược - Coggle Diagram
Chương 13.3: Tiết kiệm và đầu tư - Mô hình
Để tạo mô hình cần đơn giản hóa thị trường
Cho rằng hệ thống tài chính chỉ tồn tại duy nhất thị trường vốn vay
Nguồn cung: Mọi người sẵn sàng đem tất cả thu nhập của mình đi tiết kiệm và cho vay thay vì tiêu dùng
Nguồn cầu: Người đi vay sử dụng vốn vay (số tiền vay) từ người cho vay để đầu tư
Người cầu trong mô hình là tư nhân muốn đầu tư, không phải chính phủ muốn tài trợ thâm hụt
Ở thị trường vốn vay, chỉ có một mức lãi suất cho cả người cho vay và người đi vay (mức lãi suất = giá của khoản vay)
Mức lãi suất mà chúng ta xem xét là lãi suất thực chứ không phải danh nghĩa, gọi tắt là lãi suất
Mô hình cung cầu vốn vay trên thị trường vốn vay
Tương trự như cung và cầu hàng hóa trên thị trường một loại hàng hóa nào đó (với P là R)
Mức lãi suất và lượng vốn vay được tự động điều chỉnh về điểm cân bằng bởi bàn tay vô hình hệt như thị trường cung cầu hàng hóa
Lãi suất cao --> Cầu vốn ít, Cung vốn cao --> Lãi suất giảm xuống
Lãi suất thấp --> Cầu vốn cao, Cung vốn ít --> Lãi tăng lên
Các ảnh hưởng lên cung cầu vốn vay
Giảm thuế/Miễn thuế thu nhập đánh trên phần tiền lãi
Tăng động cơ, khuyến khích người dân tiết kiệm
Đường cung dịch sang phải
Vốn vay cân bằng tăng (đầu tư nhiều hơn, tiết kiệm cũng nhiều hơn) và mức lãi suất cân bằng giảm
Hoài nghi thường gặp:
Mức độ hiệu quả (ít hay nhiều) lên tiết kiệm quốc gia
Tính công bằng (dường như chỉ có lợi cho người giàu)
Quy định hoàn thuế đầu tư (ưu đãi về thuế cho người đầu tư)
Tăng dộng cơ, khuyến khích người dân đầu tư
Đường cầu dịch sang phải
Vốn vay cân bằng tăng (đầu tư nhiều hơn, tiết kiệm nhiều hơn) và mức lãi suất cân bằng tăng
Thâm hụt ngân sách chính phủ
Cắt giảm thuế/Chi tiêu quá mức của chính phủ --> Thâm hụt ngân sách --> Giảm lượng tiền tiết kiệm
Đường cung dịch sang trái
Vốn vay cân bằng giảm (ít tiết kiệm, ít đầu tư) và mức lãi suất cân bằng tăng
Hiện tượng lấn át: Phần vay của chính phủ để tài trợ cho thâm hụt của họ lấn át phần vay của tư nhân để đầu tư
Vì vậy làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế (đầu tư giảm --> vốn giảm --> GDP tăng chậm)
Khi thâm hut, chính phú sẽ đi vay từ người dân để TÀI TRỢ cho phần thâm hụt đó --> mang nguồn cung vốn từ tiết kiệm về tay mình chứ không phải về tay những người đầu tư
Thặng dư ngân sách chính phủ
Thặng dư ngân sách --> Tăng lượng tiền tiết kiệm
Đường cung dịch sang phải
Vốn vay cân bằng tăng (đầu tư nhiều hơn, tiết kiệm nhiều hơn) và mức lãi suất cân bằng giảm
Vì vậy làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế (đầu tư tăng --> vốn tăng --> GDP tăng nhanh)
Khi có thặng dư, chính phủ hoàn trả một số khoản nợ chính phủ hiện có cho người dân --> nguồn cung vốn lại tăng
Nợ chính phủ: Các khoản vay được tích lũy của chính phủ trong quá khứ
Nợ chính phủ tăng --> Thâm hụt
Thảo luận về nợ chính phủ
Tỉ lệ nợ/GDP: Thể hiện tình hình tài chính của chính phủ
Giảm: nợ chính phủ giảm, quá ok
Tăng: chính sách tái khóa - chỉ tiêu chính phủ và thuế - phải thay đổi
Nguyên nhân
Chiến tranh --> tăng chi tiêu quốc phòng --> vay nợ để tài trợ cho thâm hụt (chứ không tăng thuế vì)
Giữ mức thuế ổn định theo thời gian
San sẻ gánh nặng (trả tiền vay, chuyển chi phí chiến tranh) cho đời sau vì đây là một sự phân phối gánh nặng bình đẳng (con cháu đã được hưởng lợi ích từ hòa bình)
Cắt giảm các loại thuế quan trọng
Một cuộc suy thoái kinh tế --> Chắc chắn gia tăng thâm hụt ngân sách
Chi tiêu cho an ninh quốc gia tăng đột biến (khủng bố, bạo động,...)
Ngược