Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
NHỚ RỪNG
(THẾ LỮ)
layout : - Coggle Diagram
NHỚ RỪNG
(THẾ LỮ)
:
-
-
1, TÁC GIẢ
SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
Giai đoạn đầu: Thế Lữ bắt đầu sáng tác thơ từ những năm 1930. Thơ của ông giai đoạn này thường mang màu sắc lãng mạn, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, tình yêu, cuộc sống.
Giai đoạn đỉnh cao: Những năm 1930 - 1940 là giai đoạn đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Thế Lữ. Ông cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như "Nhớ rừng", "Mùa xuân", "Gió hát"...
Giai đoạn sau: Sau Cách mạng tháng Tám, Thế Lữ tiếp tục sáng tác nhưng chủ yếu tập trung vào các hoạt động xã hội, văn hóa.
PHONG CÁCH SÁNG TÁC
Lãng mạn: Thế Lữ là một nhà thơ lãng mạn. Thơ ông thường sử dụng những hình ảnh giàu chất thơ, âm nhạc, ngôn ngữ giàu cảm xúc để diễn tả những tâm trạng, suy nghĩ sâu sắc của con người.
Yêu thiên nhiên: Thiên nhiên là một nguồn cảm hứng bất tận trong thơ của Thế Lữ. Ông miêu tả thiên nhiên với một tình yêu say đắm, khám phá vẻ đẹp ẩn chứa trong từng chi tiết nhỏ.
Khát vọng tự do: Khát vọng tự do là một chủ đề xuyên suốt trong thơ của Thế Lữ. Điều này được thể hiện rõ nét trong bài thơ "Nhớ rừng".
TIỂU SỬ
Thế Lữ (1907- 1989), tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ.
Quê quán: Bắc Ninh (nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội).
-
4. NGHỆ THUẬT
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, giúp cho tác giả có thể thể hiện một cách linh hoạt những cảm xúc của mình.
Bài thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, điệp ngữ... giúp cho hình ảnh trở nên sinh động, ý nghĩa được sâu sắc hơn.
Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu âm thanh. Các từ ngữ được lựa chọn một cách tinh tế, tạo nên những câu thơ giàu sức gợi.
3. NỘI DUNG CHÍNH
Hình tượng con hổ cảm thấy bất hòa sâu sắc với cảnh ngột ngạt tù túng, khao khát tự do cũng đồng thời là tâm trạng chung của người dân Việt Nam mất nước bấy giờ.
Bài thơ mượn lời con hổ nhớ rừng để thể hiện sự u uất của lớp những người thanh niên trí thức yêu nước, đồng thời thức tỉnh ý thức cá nhân.
-
2, TÁC PHẨM
HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
Bài thơ được sáng tác vào năm 1934, trong giai đoạn đất nước ta đang bị thực dân Pháp đô hộ. Nhân dân ta sống trong cảnh nô lệ, mất tự do. Sau được in trong tập Mây vầng thơ - 1935.
Thế Lữ, cùng với nhiều trí thức yêu nước khác, cảm thấy bức xúc trước hiện thực xã hội. Ông muốn bày tỏ nỗi lòng uất ức, khát khao tự do của mình.
BỐ CỤC
Đoạn 2 và 3: Tái hiện lại cuộc sống tự do, phóng khoáng của con hổ trong rừng xanh.
Đoạn 5: Thể hiện nỗi khát khao mãnh liệt được trở lại với thiên nhiên, với cuộc sống tự do.
Đoạn 1 và 4: Miêu tả cảnh ngộ bi thảm của con hổ trong vườn bách thú, đối lập với quá khứ oai hùng.
2, NỘI DUNG
Đoạn 5
⇒ Tâm sự của con hổ chính là tâm sự của người dân Việt Nam mất nước đang sống trong cảnh nô lệ và tiếc nhớ những năm tháng tự do oanh liệt với những chiến thắng vẻ vang trong lịch sử
-
-
Đoạn 2+3
Đoạn 3
⇒ Một bộ tranh tứ bình đẹp lộng lẫy, cho thấy những cảnh thiên nhiên hoang vắng đẹp rợn ngợp và con hổ với tư thế và tầm vóc uy nghi, hoành tráng
- Cảnh tượng cuối cùng cho thấy hổ là loài mãnh thú, đợi màn đêm buông xuống nó sẽ là chúa tể muôn loài
- “Đâu những bình minh...tưng bừng”⇒ cảnh chan hòa ánh sáng, rộn rã tiếng chim ca hát cho giấc ngủ của chúa sơn lâm.
- “Đâu những ngày ...ta đổi mới” ⇒ Cảnh mưa rung chuyển đại ngàn, hổ lãng mạn ngắm giang sơn đổi mới.
- “Nào đâu ... ánh trăng tan”⇒ Cảnh đẹp diễm lệ khi con hổ đứng uống ánh trăng thật lãng mạn
Đoạn 2
⇒ Vẻ oai phong của con hổ khiến tất cả đều phải im hơi, diễn tả vẻ uy nghi, dũng mãnh vừa mềm mại vừa uyển chuyển của vị chúa sơn lâm
- Bước chân dõng dạc đường hoàng ⇒ vẻ oai phong đầy sức sống
⇒ Những từ ngữ được chọn lọc tinh tế nhằm diễn tả cảnh đại ngàn hùng vĩ, lớn lao mạnh mẽ, bí ẩn thiếng liêng
- Những tiếng “gió gào ngàn”, “giọng nguồn hét núi” ⇒ Sự hoang dã của chốn thảo hoa không tên không tuổi
- Cảnh núi rừng đầy hùng vĩ với “bóng cả cây già” đầy vẻ nghiêm thâm
Đoạn 1+4
Đoạn 4
⇒ Cảnh vườn bách thú là thực tại của xã hội đương thời, thái độ của con hổ chính là thái độ cú người dân đối với xã hội đó
⇒ Cảnh tù túng đáng chán, đáng ghét
Cảnh tượng vẫn không thay đổi, đơn điệu, nhàm chán do bàn tay con người sửa sang ⇒ tầm thường giả dối
Đoạn 1
⇒ Tâm trạng của con hổ cũng giống tâm trạng của người dân mất nước, Căm hờn và phẫn uất trong cảnh đời tối tăm.
⇒ Từ ngữ, hình ảnh chọn lọc, giọng thơ u uất diễn tả tâm trạng căm hờn, uất ức, ngao ngán
“Khinh lũ người kia”: Sự khinh thường, thương lại cho những kẻ (Gấu, báo) tầm thường nhỏ bé, dở hơi, vô tư trong môi trường tù túng
“Ta nằm dài” – cách xưng hô đầy kiêu hãnh của vị chúa tể ⇒ Sự ngao ngán cảnh tượng cứ chầm chậm trôi, nằm buông xuôi bất lực
Tâm trạng căm hờn, phẫn uất tạo thành một khối âm thầm nhưng dữ dội như muốn nghiền nát, nghiền tan
Hoàn cảnh bị nhốt trong cũi sắt, trở thành một thứ đồ chơi