Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
Các cách tiếp cận trong phát triển chương trình giáo dục - Coggle Diagram
Các cách tiếp cận trong phát triển chương trình giáo dục
Cách tiếp cận hệ thống
Là tổ chức CTGD thành một hệ thống
Các bộ phận CTGD được xem như những yếu tố liên kết với nhau trong một chỉnh thể.
Xem xét
Toàn bộ quá trình cần thiết trong việc thiết kế, thực hiện, đánh giá và phát triển CTGD
Các yếu tố nằm trong cấu trúc của CTGD như môn học, khoá học, kế hoạch khoá học,...
Chịu ảnh hưởng của lí thuyết hệ thống, phân tích hệ thống và kĩ thuật hệ thống
Trong thiết kế CTGD, cách tiếp cận hệ thống xem các đơn vị trong nhà trường là các yếu tố có quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau.
Các chuyên gia thiết kế CTGD theo cách tiếp cận hệ thống thường có cách nhìn vĩ mô hơn về CTGD và đề cập tới các vấn đề của CTGD liên quan tới toàn bộ hệ thống nhà trường.
Cách tiếp cận nhân văn
Có nguồn gốc từ triết học cấp tiến và phong trào xem người học là trung tâm của những năm đầu thế kỉXX.
Phần lớn chỉ áp dụng trong thiết kế CTGD của bậc Tiểu học bao gồm các bài giảng về kĩ năng sống, trò chơi theo nhóm, đi dã ngoại, những hoạt động mang tính giải quyết vấn đề,...
Các chuyên gia CTGD theo cách tiếp cận nhân văn
Đặt niềm tin vào việc hợp tác, học độc lập, học theo nhóm nhỏ
Chống lại việc học cạnh tranh, coi GV là quyền uy, học lớp đông và chỉ chú ý tới nhận thức.
Theo cách tiếp cận này, mỗi đứa trẻ đều có sự đóng góp của mình vào CTGD và chia sẻ trách nhiệm với cha mẹ, với GV, với người quản lí trong việc lên kế hoạch giảng dạy
Phát triển mạnh vào năm 1970, với hi vọng cải cách hoàn toàn giáo dục phổ thông.
Ngày nay, yếu tố nhân văn đã ít được quan tâm hơn
Cách tiếp cận phát triển
CTGD được xem là quá trình, còn giáo dục là sự phát triển (Kelly) với nghĩa là phát triển con người, phát triển mọi tiềm năng, kinh nghiệm
Giáo dục là một quá trình tiếp diễn liên tục suốt đời
Chú trọng đến sự phát triển khả năng hiểu biết, tiếp thu ở người học
Kelly (1977)
cho rằng, theo cách tiếp cận này, giáo dục là quá trình mà nhờ đó mức độ làm chủ bản thân làm chủ vận mệnh tiểm ẩn ở mỗi người được phát triển một cách tối đa.
Tất cả những điều nói trên đòi hỏi phải thiết kế CTGD như một quá trình bao gồm các hoạt động cần thực hiện giúp người học phát triển tối đa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, tố chất sẵn có
Pan Hirst (1965)
cho rằng giáo dục phải phát triển tư duy logic, năng lực sáng tạo, phát triển tri thức về mọi mặt.
Whitehead (1932)
cũng đã từng nói giáo dục là nghệ thuật sử dụng kiến thức hơn là nắm được những ý tưởng đơn độc.
Theo J. White (1995)
, CTGD phải giúp tạo ra những sản phẩm
“có thể đương đầu với những đòi hỏi của nghề nghiệp không ngừng thay đổi, với một thế giới biến động khôn lường”
.
Với quan điểm giáo dục là phát triển, còn CTGD là quá trình, người thiết kế chú trọng nhiều hơn đến khía cạnh nhân văn của CTGD
Theo Kelly
, CTGD chỉ thực sự có tính giáo dục nếu nội dung của nó bao gồm những cái mà người học quý trọng và thông qua việc kiên trì theo đuổi những cái đó mà người học phát triển được sự hiểu biết, phát triển mọi năng lực tiềm ẩn của bản thân.
Từ cách tiếp cận này, một lí thuyết về hệ phương pháp dạy học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm (learner’s centred approach) ra đời.
Tuy nhiên, người ta cho rằng cách tiếp cận này chú ý nhiều đến nhu cầu, sở thích của con người, mà nhu cầu và sở thích lại hết sức đa dạng, và không phải ai cũng xác định nổi.
Cách tiếp cận theo nội dung
Trong giai đoạn đầu, giáo dục chỉ được coi là "quá trình truyền thụ kiến thức", vô hình chung đẩy người học vào thế thụ động trong tiếp thu
Nhược điểm chính của cách tiếp cận trong thiết kế CTGD theo nội dung là khó xác định được mục tiêu chi tiết, cụ thể, định hướng để thầy và trò cùng nhau đi tới, đồng thời qua đó xác định được chuẩn để kiểm tra, đánh giá thành quả giảng dạy - học tập của GV và SV
Theo Kelly, ý tưởng coi giáo dục là quá trình truyền thụ kiến thức và CTGD là quá giản đơn, cách tiếp cận này không khuyến khích và bắt ta có trách nhiệm gì với người học, sự tác động nội dung kiến thức lên người học
Ở Việt Nam, cách thiết kế CTGD các bậc học theo quan điểm nội dung vẫn là chủ đạo
Cách tiếp cận theo mục tiêu hay cách tiếp cận hành vi
Cách tiếp cận theo mục tiêu hay nói đầy đủ hơn là cách tiếp cận theo mục tiêu đào tạo, có cơ sở là mục tiêu đào tạo đươc xây dựng một cách chi tiết, bao gồm cả nội dung kiến thức, kĩ năng cần rèn luyện cho người học, phương pháp đào tạo, nguồn học liệu cũng như phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Cách tiếp cận theo mục tiêu còn gọi là cách tiếp cận hành vi
Theo cách tiếp cận này, những kiến thức, kĩ năng nhằm giúp đạt tới hệ mục tiêu đào tạo đã được xác định từ trước được coi trọng Dựa vào đó, người thiết kế chương trình chọn nội dung kiến thức, kĩ năng cần đào tạo, phương pháp đào tạo cũng như hình thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo phù hợp
Ưu điểm
Giúp xác định mục tiêu đào tạo cụ thể của từng môn học, từng nhóm môn học. Qua đó giúp người dạy định hướng những kiến thức, kĩ năng mà mình sẽ dạy
Việc đánh giá kết quả đào tạo là hoàn toàn có thể thực hiện được một cách chính xác, khoa học
Tính mục tiêu hay tính hiệu quả làm cho việc thiết kế CTGD và tổ chức đào tạo mang tính khoa học, chính xác hơn, tổ chức quá trình dạy học hợp lí hơn và có thể đánh giá được
Nhược điểm
Giáo dục không đơn thuần là công cụ để rèn đúc ra những sản phẩm theo một "khuôn mẫu" cố định theo một dây chuyền công nghệ được quy định một cách ngặt nghèo
Không thể xem là tương đồng với khái niệm "công nghê giáo dục" để áp dụng "CTGD kiểu công nghệ" theo cách hiểu cứng nhắc
Cách tiếp cận quản lí
Cách tiếp cận quản lí xem nhà trường như một hệ thống xã hội mà theo lí thuyết tổ chức, mọi nhóm dân cư như sinh viê, GV, chuyên gia về CTGD, nhà quản lí... tác động qua lại với nhau theo những chuẩn mực hành vi nhất định
Cách tiếp cận quản lí có xu hướng tập trung vào khía cạnh giám sát và quản lí của CTGD, nhất là quán trình tổ chức và thực thi
Nhược điểm: Những nhà quản lí có quyền lực ít quan tâm đến nội dung CTGD, mà chủ yếu là tổ chức và thực hiện CTGD. Họ ít quan tâm tới nội dung môn học, học liệu và phương pháp dạy học
Tiếp cận sáng tạo và khởi nghiệp:
Mục tiêu cốt lõi là năng lực sáng tạo và năng lực khởi nghiệp.
Nội dung chương trình phải tuân thủ nguyên tắc tích hợp, liên ngành, xoáy ốc
Hình thức tổ chức dạy học trong thực thi chương trình mới phải lấy trải nghiệm sáng tạo làm chủ đạo
Các nguyên tắc tối thiểu
Chương trình phải lấy người học, sự học làm gốc.
Trải nghiệm sáng tạo trong dạy học là điều bắt buộc
Chọn lọc những vấn đề cốt lõi
Mở cửa trường ra xã hội lấy bối cảnh sống làm bối cảnh dạy học
Dạy học phân hóa, tiến tới cá thể hóa
Đánh giá thường xuyên, theo quá trình, vì sự tiến bộ của người học trong suốt quá trình học tập là yếu tố quyết định chất lượng của quá trình giáo dục và đào tạo.
Tiếp cận tổng hợp trong phát triển chương trình giáo dục
các học phần/môn học được thiết kế thành các module và được tổ chức thực thi theo phương thức tích luỹ (tín chỉ).
Modunle là một đơn vị kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hướng tới một đầu ra nhất định và có thể lắp ghép với một hoặc vài modunle khác thành một đơn vị kiến thức lớn hơn, hướng tới một đầu ra lớn hơn.
modunle có
những đặc điểm sau
Được kiểm tra đánh giá sau khi kết thúc.
Các module có giá trị lớn hơn có số tín chỉ là bội số của modunle chuẩn.
Mỗi module có nội dung và mục tiêu xác định.
Module có giá trị bằng một số tín chỉ chuẩn.
Được dạy học trong một học kì
Sinh viên có thể học tập, tích luỹ số tín chỉ của modunle bằng nhiều các
CTGD được thiết kế dưới dạng module và được tổ chức theo học chế tín chỉ cho phép người học căn cứ nhu cầu của xã hội và khả năng của bản thân tự tổ chức kế hoạch học tập cho riêng mình
Cách tiếp cận năng lực
Kiểu học tập
Vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ theo kiểu tích hợp trong bối cảnh thực để phát triển dần năng
Nhấn mạnh kĩ năng nhận thức, tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác.
Mỗi năng lực được phát triển liên tục theo hình xoăn ốc ở nhiều lĩnh vực/môn học, dọc theo thời gian
Kiểu hoạt động: Người học và người dạy cùng hợp tác
Trọng điểm: Vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Trách nghiệm: Vừa cung cấp nguồn lực, vừa chịu trách nhiệm đến kết quả cuối cùng
Mục tiêu, kết quả đề ra:
Mức độ phát triển năng lực (tổng hoà kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ và xúc cảm).
Được phát triển trên cơ sở nhu cầu của công việc trong xã hội.
Là kì vọng đối với cả người học và người dạy.
Nội dung học: Lựa chọn những năng lực cần thiết cho HS trong cuộc sống.Tổ chức nội dung chủ yếu theo cách tích hợp giúp hình thành và phát triển năng lực.
Phương pháp dạy và học:
Xuất phát từ kinh nghiệm gắn kết với cuộc sống thực. Thông qua trải nghiệm, chú ý đến việc tổ chức phát triển tiềm năng sẵn có ở mỗi người.
Thích ứng với kinh nghiệm mỗi người trong học tập và cuộc sống.
Đánh giá người học: Nhấn mạnh những kết quả đầu ra thực sự ở mỗi HS