Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
Bài 22: Xã hội việt nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân…
Bài 22: Xã hội việt nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân pháp
1.Những chuyển biến về kinh tế
Năm 1897, chinh phủ pháp cử
Pôn Đu-me
làm toan quyền đông dương để hoàn thiện bộ máy thống trị và tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
tiểu sử
Paul Doumer, tên gọi đầy đủ Joseph Athanase Doumer (sinh ngày 22 tháng 3 năm 1857 tại Aurillac, Cantal, mất ngày 7 tháng 5 năm 1932 tại Paris) là một chính trị gia người Pháp. Ông là Toàn quyền Đông Dương từ 1897 đến 1902 và Tổng thống Pháp từ 1931 đến 1932.
a. Chương trình khai thác thuộc địa lần I
Với chính sách bóc lột “chia để trị” của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, chúng thẳng tay đàn áp và bóc lột nhân dân với mục đích:
vơ vét sức người,sức dân đông dương đến mức tối đa
Đồng thời, chúng cũng muốn thăm dò thế mạnh về địa hình, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, cũng như nguồn lao động tại các nước thuộc địa.
Việt nam bị chia làm ba xứ với ba chế độ cai trị khác nhau
Trung Kì (bảo hộ)
Bắc Kì (nửa bảo hộ)
Nam Kì (thuộc địa)
bộ máy nhà nước
toàn quyền đông dương Pháp
Trung Kì khâm sứ (bảo hộ)
Bộ máy chính cấp kì ( viên toàn quyền đông dương )
Bộ máy hành chính cấp tỉnh (Công sứ pháp tuần phủ người việt )
Bộ máy hành chính cấp huyện xã thôn phủ( người việt )
Nam kì thống đốc (thuộc địa)
Bắc Kì thống sứ (nửa bảo hộ)
Nhận xét
Chính sách của Pháp trong việc tổ chức bộ máy nhà nước vô cùng chặt chẽ, với tay xuống tận nông thôn.
Kết hợp giữa thực dân và phong kiến cai trị.
Các chinh sách:
+Nông nghiệp: đẩy mạnh việc cướp đoạt ruộng đất
Ép triều đình nhà Nguyễn khai khẩn đất hoang cho chúng.
lập đồn điền
chiếm hàng ngàn, hàng vạn hecta đất để lập các đồn điền trồng lúa, trồng cà phê, chè hay cao su.
+Công nghiệp: Tập trung khai thác than và kim loại,, ngoài ra còn tập trung vào một số ngành khác : xi măng, điện, nước…
cho xây dựng nhiều cơ sở phục vụ đời sống của chúng tại Việt Nam, như: điện, nước, bưu điện, hay cơ sở sản xuất xi măng, dệt nhằm tận dụng nhân công và nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của chúng khi hàng hóa chính quốc chưa kịp chuyển sang.
+Thương nghiệp: độc chiếm thị trường, nguyên liệu và thu thuế
+Giao thông vận tải: xây hệ thống giao thông vận tải để tăng cường bóc lột và phục vụ mục đích quân sự.
Cầu Long Biên (1898 - 1902)
Các cây cầu, cảng biển, các tuyến đường biển ngày càng được xây dựng nhiều và vươn ra nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, mục đích xây dựng hệ thống giao thông của Pháp nhằm phục vụ cho mục đích khai thác lâu dài là chủ yếu, đồng thời góp phần hỗ trợ trong việc bóc lột nhân dân ta một cách dễ dàng.
-Tích cực:
Những yếu tố của nền sản xuất TBCN được du nhập vào việt nam, cơ sở hạ tầng hiện đại, của cải vật chất sản xuất được nhiều hơn.
-Tiêu cực: Tài nguyên thiên nhiên bị cùng kiệt, nền kinh tế việt nam cơ bản vẫn là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phụ thuộc.
2.Những chuyển biến về xã hội
a.Các giai cấp cũ
-Giai cấp nông dân: Số lượng đông đảo nhất, bị bần cùng hóa, áp bức bóc lột nặng nề. Sẵn sàng hưởng ứng tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập và ấm no.
-Giai cấp địa chủ phong kiến:Từ lâu đã đầu hàng, làm tay sai cho pháp.tuy nhiên, có một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước.
b.Các Giai cấp mới
-Công nhân: Xuất thân từ nông dân làm việc ở đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp, đời sống khổ cực. Mục tiêu đấu tranh đầu thế kỉ XX là quyền lợi kinh tế.
-Tư sản: Xuất thân từ các nhà thầu khoán, chủ xí nghiệp, chủ hang buôn, bị chính quyền thực dân kìm hãm, tự bản pháp chèn ép.
-Tiểu tư sản thành thị: là nhà báo, nhà giáo, viên chức, trí thức, tiểu thương tiểu chủ… có ý thức dân tộc, hào hứng tham gia phong trào yêu nước.
kết luận
Như vậy cuộc khai thác thuộc địa của thực dân pháp đã làm nảy sinh những lực lượng xã hội mới, tạo ra những điều kiện cho công cuộc vận động giải phóng dân tộc theo xu hướng vô sản đầu thế kỉ XX.