Please enable JavaScript.
Coggle requires JavaScript to display documents.
CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN NAM KÌ SAU HIỆP ƯỚC 1862 - Coggle Diagram
CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN NAM KÌ SAU HIỆP ƯỚC 1862
THỰC DÂN PHÁP CHIẾM BA TỈNH MIỀN TÂY NAM KÌ
Lợi dụng sự bạc nhược của triều đình Huế, ngày 20-6-1867, quân Pháp kéo đến trước thành Vĩnh Long, ép Phan Thanh Giản nộp thành không điều kiện, chúng còn khuyên ông viết thư cho quan quân hai tỉ.
Từ ngày 20=>24-06-1867, thực dân Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây Nam Kì (Vĩnh Long,An GIang, Hà Tiên) mà không cần tốn một viên đạn
Sau khi chiếm 3 tỉnh Đông Nam Kì, Pháp bắt tay ngay vào tổ chức bộ máy cai trị và chuẩn bị mở rộng phạm vi chiếm đóng
1863, Pháp vu cáo triều đình Huế vi phạm các điều đã cam kết trong Hiệp ước 1862, yêu cầu triều đình giao nốt cho chúng quyền kiểm soát cả ba tỉnh miền Tây Nam. Trước yêu cầu này, triều đình vô cùng lúng túng.
NHÂN DÂN BA TỈNH MIỀN ĐÔNG TIẾP TỤC KHÁNG CHIẾN SAU HIỆP ƯỚC 1862
Pháp dừng các cuộc thôn tính để bình định miền Tây
Nhân dân ba tỉnh miền Đông vẫn tiếp rục kháng chiến, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Trương Định chỉ huy
Khởi nghĩa Trương Định (1859 – 1864)
Năm 1862, vua quan nhà Nguyễn ra lệnh giải binh, nhưng Trương Định cương quyết kháng Pháp đến cùng, được nhân dân suy tôn là Bình Tây đại nguyên soái.
Ngày 20/8/1864, Trương Định bị thương nặng đã rút gươm tự sát. Con trai là Trương Quyền tiếp tục chiến đấu đến năm 1867.
Năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định. Trương Định tổ chức nghĩa quân chống giặc ở Gò Công, Tân An, được triều đình Huế giao chức Lãnh binh
Nhận xét: - Những hành động của Trương Định thể hiện tinh thần dũng cảm cùng với lòng yêu nước mãnh liệt, không chịu khuất phục trước kẻ thù, củng cố được niềm tin của dân chúng.
(
https://www.youtube.com/watch?v=0xAeyo0nHFk
)
NHÂN DÂN BA TỈNH MIỀN TÂY CHỐNG PHÁP
Phong trào kháng chiến tiếp tục dâng cao, dưới nhiều hình thức (bất hợp tác, khởi nghĩa vũ trang, liên minh với Campuchia)
Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra: Trương Quyền ở Tây Ninh; Phan Tôn, Phan Liêm ở Ba Tri (Bến Tre); Nguyễn Trung Trực ở Hòn Chông (Rạch Giá); Nguyễn Hữu Huân ở Tân An, Mĩ Tho,…
Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868)
Nguyễn Trung Trực nổi dậy ở Tân An, chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Hy Vọng (L’Espérance) của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (10/12/1861)
16-6-1868, Nguyễn Trung Trực dẫn quân đi đánh úp và chiếm được đồn Kiên Giang (Rạch Giá) do trung úy Sauterne chỉ huy
27-10-1868, ông bị thực dân Pháp bắt và đưa đi hành hình, ông khảng khái nói: "Bao giờ nước Nam hết cỏ, thì mới hết người Nam đánh Tây."
https://youtu.be/Cg23tPx55ik
Nguyễn Hữu Huân (1830-1875)
Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An đến Mỹ Tho. Khoảng tháng 6 năm 1862, Nguyễn Hữu Huân đem nghĩa quân gia nhập lực lượng Trương Định.
Ngày 5 tháng 2 năm 1863, quân Pháp tấn công vào căn cứ Tân Hòa. Căn cứ thất thủ, Trương Định kéo quân về vùng Lý Nhơn. Khi ấy, Nguyễn Hữu Huân về khởi nghĩa ở Bình Cách (Tân An), trực tiếp lãnh đạo lực lượng nghĩa quân ở Định Tường. Quân Pháp tấn công Bình Cách, Nguyễn Hữu Huân phải rút quân về Thuộc Nhiêu
Tháng 6 năm 1863, lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ Thuộc Nhiêu. Đến đến cuối năm đó, thì ông rút quân đến An Giang gặp Võ Duy Dương (còn gọi là Thiên hộ Dương). Đầu năm 1864, ông cùng thủ lĩnh Dương chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai.
Nguyễn Hữu Huân cho chuyển quân về vùng Thất Sơn, An Giang tiếp tục chiến đấu. Bộ chỉ huy quân đội Pháp rất lo ngại nên gửi tối hậu thư, buộc Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận phải giao nộp Thủ Khoa Huân cho họ làm tội, viện lẽ ông này không tuân theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862).
https://youtu.be/hICCh7XPQ94
Do tương quan lực lượng, cuối cùng phong trào đều bị thất bại nhưng đã thể hiện lòng yêu nước
file:///C:/Users/Ginny/Downloads/yt1s.com%20-%20T%C3%B3m%20t%E1%BA%AFt%20nhanh%20qu%C3%A1%20tr%C3%ACnh%20Th%E1%BB%B1c%20d%C3%A2n%20Ph%C3%A1p%20x%C3%A2m%20l%C6%B0%E1%BB%A3c%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%201858%20%201884%20trong%206%20ph%C3%BAt_Trim.mp4